Tám trí thông minh theo thuyết của Howard Garner

Howard Garner là một nhà tâm lý học của Mỹ. Ông có nhiều nghiên cứu về trí thông minh của con người ta. Một trong những nghiên cứu thành công nhất của ông chính là lý thuyết đa thông minh. Theo ông thì con người có các loại trí thông minh như sau:
Trí thông minh ngôn ngữ:

Những quyển sách rất quan trọng đối với tôi.
Tôi có thể nghe thấy những từ vang lên trong đầu mình trước khi đọc, nói hay viết chúng ra.
Tôi nghe đài hoặc nghe băng nhiều hơn là xem ti vi hay xem phim.
Tôi có khả năng từ ngữ trong các trò chơi như sắp xếp chữ, đảo chữ hay mật khẩu.
Tôi thích giải trí hay chơi những trò nào mà có sự xoắn lưỡi, có những âm điệu vô nghĩa hay có sự chơi chữ.
Đôi khi những người khác phải dừng lại và đề nghị tôi giải thích ý nghĩa của những từ ngữ mà tôi sử dụng khi viết và nói.
Tiếng Anh, các môn học xã hội và lịch sử đối với tôi dễ hơn nhiều so với môn toán và khoa học trong thời gian tôi còn đi học phổ thông.
Khi lái xe thong thả trên xa lộ, tôi có sự chú ý vào những từ ngữ viết trên bảng quảng cáo nhiều hơn chú ý quang cảnh xung quanh.
Cuộc nói chuyện, trao đổi của tôi thường liên quan đến những thông tin tham khảo mà tôi vừa được đọc hoặc nghe thấy.
Gần đây tôi đã viết về một số điều đã làm tôi đặc biệt tự hào hoặc những điều giúp tôi được nhận ra giữa những người khác.
Phát triển ngôn ngữ theo phương pháp Glenn Doman cũng là cách tăng cường trí thông minh này.
Trí thông minh lôgic:

Tôi có thể dễ dàng tính toán các con số trong đầu.
Toán và/hoặc các môn khoa học là những môn học được tôi yêu thích trong số những môn khi còn học ở nhà trường.
Tôi thích thú với các trò chơi hay giải các câu hỏi hóc búa mang tính trí óc mà chúng đòi hỏi phải có suy nghĩ lô-gic.
Tôi thích nghĩ ra và làm các thí nghiệm mà có một chút tính chất là “cái gì xảy ra” (Thí dụ như: “cái gì sẽ xảy ra nếu tôi tăng gấp đôi số lượng nước tôi tưới hàng tuần vào bụi hoa hồng của tôi”).
Suy nghĩ của tôi là tìm tòi những khuôn dạng, luật lệ hay những trật tự có tính lô-gic trong các sự vật, sự việc.
Tôi ham thích và hứng thú với những phát triển, tiến bộ mới của khoa học.
Tôi tin tưởng rằng hầu hết mọi thứ đều có một cách lý giải hợp lý, chặt chẽ.
Đôi khi tôi tư duy bằng những khái niệm trừu tượng, tách biệt rõ ràng, không có từ ngữ và hình ảnh.
Tôi thích tìm kiếm những thiếu sót mang tính lô-gic trong những thứ mà mọi người nói và làm ở nhà và trong công việc.
Tôi cảm thấy thoải mái, dễ chịu hơn khi có một điều gì đó được đo đạc, xếp loại, phân tích và định lượng theo một phương pháp nào đó.

Trí thông minh không gian:

Tôi thường thấy được rõ ràng hình ảnh hiện lên khi tôi nhắm mắt lại.
Tôi nhạy cảm với màu sắc.
Tôi thường sử dụng máy quay phim hoặc máy ảnh để ghi lại những gì tôi nhìn thấy ở xung quanh mình.
Tôi thích thú với việc giải câu đố xếp hình, mê cung hay những câu đố khác sử dụng hình ảnh.
Tôi có những giấc mơ đầy hình ảnh sống động vào ban đêm.
Nói chung, tôi có thể nhìn thấy đường của mình cả ở những khu vực, địa bàn không quen biết.
Tôi thích vẽ hoặc viết nguệch ngoạc một cách lơ đãng.
Khi còn đi học phổ thông, đối với tôi môn hình học dễ hơn nhiều so với môn đại số.
Tôi có thể tưởng tượng một cách thoải mái về hình ảnh của một sự vật hoặc một cảnh bất kỳ nào đó sẽ được hiện ra như thế nào, khi được nhìn từ trên cao xuống bằng đôi mắt của con chim đang bay.
Tôi thích nhìn ngắm một tài liệu có nhiều hình ảnh minh hoạ hơn là đọc nó.

Trí thông minh vận động cơ thể:

Tôi tham gia ít nhất một môn thể thao hoặc hoạt động thân thể đều đặn và thường xuyên.
Tôi thấy thật khó khăn khi phải ngồi lỳ một chỗ trong một khoảng thời gian dài.
Tôi thích làm việc bằng bàn tay với những công việc, hoạt động có tính cụ thể như nghề làm may, nghề thêu, chạm khắc, nghề thợ mộc hoặc tạo mẫu.
Những ý tưởng tốt nhất thường đến với tôi khi đang đi dạo hoặc chơi đùa ở bên ngoài, hoặc khi tôi tham gia vào một vài hoạt động cơ thể khác nào đó.
Tôi thường thích được dùng thời gian rỗi rãi để đi ra ngoài.
Tôi thường sử dụng các cử chỉ phức tạp của tay hoặc các dạng khác của ngông ngữ cơ thể khi đối thoại, nói chuyện với một người nào đó.
Tôi cần được chạm vào các thứ để có thể hiểu rõ hơn về chúng.
Tôi ham thích được chơi các trò chơi tiêu khiển liều lĩnh, táo bạo hoặc tham gia các hoạt động thân thể tương tự, có thể đem lại cảm giác mạnh, hồi hộp, sợ hãi với người chơi.
Tôi có thể tự vận động tốt cũng như khi phối hợp với người khác.
Tôi cần được thực tập một kỹ năng mới nhiều hơn là chỉ đọc về nó một cách đơn thuần hay xem một băng video mô tả về nó.

Trí thông minh âm nhạc:

Tôi có một giọng hát dịu dàng.
Tôi có thể biết và phân loại được khi có một nốt nhạc bị lạc điệu (bị sai).
Tôi thường nghe nhạc ở đài phát thanh, ở đĩa hát, ở băng từ hay ở đĩa CD.
Tôi chơi được một nhạc cụ.
Cuộc sống của tôi sẽ thật nghèo nàn, đơn điệu nếu trong đó không có âm nhạc.
Đôi khi tôi tự nhận thấy mình đang đi bộ trên đường phố với những đoạn quảng cáo trên ti vi được lặp đi lặp lại trong đầu hoặc những giai điệu nào đó đang lướt qua trong ý nghĩ.
Tôi có thể dễ dàng dành thời gian để nghe một đoạn nhạc được chơi với chỉ một dụng cụ gõ đơn giản.
Nếu tôi nghe một bản nhạc được tuyển chọn nào đó, sau một hặc hai lần được nghe, tôi thường có thể hát lại chúng một cách tương đối chính xác.
Tôi thường tạo ra các âm thanh gõ nhè nhẹ hoặc hát những giai điệu nhỏ trong khi làm việc, nghiên cứu hoặc làm một điều gì mới.

Trí thông minh tương tác cá nhân:

Tôi thuộc dạng người mà những người khác tìm đến để nghe lời khuyên và tư vấn của tôi về công việc hoặc về những hàng xóm của tôi.
Tôi thích những môn thể thao có tính đồng đội như cầu lông, bóng chuyền, hay bóng mềm hơn là những môn thể thao mang tính cá nhân như môn bơi lội hoặc cưỡi ngựa.
Khi gặp phải rắc rối, khó khăn, tôi thích đi tìm một người khác giúp đỡ tôi hơn là việc tôi cố gắng làm việc để giải quyết được những vướng mắc, khó khăn của bản thân.
Tôi có ít nhất là 3 người bạn thân.
Tôi yêu thích những trò tiêu khiển có nhiều người tham gia như chơi bài brít hoặc bài Monopoly hơn là những trò chơi trên máy hoặc trò đánh bài một người.
Tôi thấy thích thú khi có cơ hội được dạy người khác hoặc hướng dẫn cho một nhóm người làm những điều gì tôi đã biết cách làm.
Tôi tự coi mình là người lãnh đạo (hoặc những người khác gọi tôi như vậy).
Tôi cảm thấy thoải mái khi ở giữa một đám đông người.
Tôi thích tham gia vào những hoạt động xã hội có liên quan đến vông việc của tôi, liên quan đến nhà thờ hoặc cộng đồng.
Tôi sẽ muốn dành các buổi tối để tham gia các cuộc hội họp đông người sống động hơn là ở nhà một mình.

Trí thông minh nội tâm:

Tôi thường để thời gian một mình nghiền ngẫm, trầm ngâm hoặc suy nghĩ về những vấn đề quan trọng trong cuộc sống.
Tôi đều đặn đến dự các buổi tư vấn hoặc các cuộc hội thảo về sự trưởng thành của con người để hiểu biết nhiều hơn nữa về bản thân mình.
Tôi có những chính kiến khác hẳn làm cho tôi tách biệt với đám đông người.
Tôi có một sự hứng thú hoặc sở thích đặc biệt trong việc giữ kín thật nhiều điều tốt đẹp cho bản thân.
Tôi có một cách nhìn thực tế về những mặt mạnh và điểm yếu của bản thân mình (những điều này đã được khẳng định nhờ thông tin phản hồi từ nhiều nguồn tin khác).
Tôi sẽ thích được ở một mình suốt cả thời gian cuối tuần trong một căn hầm nhỏ ở giữa rừng hơn là ở một khu nghỉ mát hấp dẫn có rất nhiều người xung quanh.
Tôi tự coi mình là người có ý chí mạnh mẽ hoặc là người có khuynh hướng độc lập.
Tôi giữ một cuốn sổ nhật ký cá nhân hoặc một cuốn sổ ghi lại những sự kiện trong đời sống nội tâm của mình.
Tôi tự làm việc cho mình hoặc ít nhất là có những suy nghĩ nghiêm chỉnh về việc bắt đầu công việc hoặc nghề nghiệp của riêng mình.
Cách phát triển từng loại trí thông minh cho trẻ
1. TRÍ THÔNG MINH NGÔN NGỮ.
Hãy cùng đọc với con của bạn. Nó sẽ giúp con bạn tăng vốn từ vựng rất nhiều.
Hãy lắng nghe con của bạn một cách chăm chú về những câu hỏi, những trải nghiệm của chúng
Khuyến khích con bạn kể cho bạn nghe những câu chuyện mà chúng vừa đọc hoặc chia sẻ với bạn.
Cho trẻ cơ hội đọc sách và thường đưa trẻ đến nhà sách.
Cho trẻ tham gia viết báo tường của lớp.

2/ TRÍ THÔNG MINH SUY LUẬN – TƯ DUY
Hãy để cho trẻ được làm các thí nghiệm/ thử nghiệm
Chỉ cho con bạn cách sử dụng máy tính (calculator) máy tính bảng ( với trẻ trên 5 tuổi )
Chơi các loại cờ như cờ vua, cờ tướng, carô, …
Yêu cầu trẻ giải các bài toán mẫu cho lớp xem.
Hãy giải thích cho trẻ hiểu rằng những sự vật mà chúng quan sát được có thể sắp xếp theo nhóm về màu sắc, hình dáng hay các đặc điểm khác.
Hãy cùng bé chơi trò chơi xếp đồ vật thành các nhóm có đặc tính tương tự nhau và cụ thể hóa bằng cách giúp bé tạo ra những đồ thị, vẽ trên giấy hình ảnh các món vật dụng đó. Tiến xa hơn nữa, bạn hãy cùng trẻ thảo luận về nguyên nhân dẫn đến sự khác nhau đó.

3/ TRÍ THÔNG MINH KHÔNG GIAN – THỊ GIÁC.
Hướng dẫn trẻ tập quan sát các hiện tượng xung quanh từ những sự vật đơn giản như những bông hoa mọc sau vườn khi bạn đi dạo cùng chúng hay những đồ chơi khi thả trong bồn tắm sẽ nổi hay chìm.
Hãy khuyến khích trẻ sử dụng hết các giác quan khi quan sát sự vật cũng như đứng từ nhiều góc độ khác nhau, khoảng cách để quan sát chúng. Sau đó, bạn hãy đưa ra những câu hỏi: Con thấy nó màu gì, nó có mùi gì, nó kêu như thế nào?

4/ TRÍ THÔNG MINH ÂM NHẠC – THÍNH GIÁC
Cho phép con bạn lựa chọn các bản nhạc tại cửa hàng bán băng đĩa nhạc
Khuyến khích trẻ hát theo hoặc vỗ tay theo nhịp điệu một bản nhạc.
– Nếu có thể, cho trẻ tham gia vào các buổi học âm nhạc.
– Cho trẻ có cơ hội được đi tham dự các buổi trình diễn âm nhạc hay hòa nhạc.
– Cho trẻ cùng tham gia và hướng dẫn các bạn trong lớp hát một bài, hoặc tham gia đội văn nghệ.

5/ TRÍ THÔNG MINH VẬN ĐỘNG – XÚC GIÁC
– Cho trẻ tham gia vào các hoạt động khiêu vũ, đóng kịch, thể thao.
– Cung cấp các hoạt động thực nghiệm lôi cuốn.
– Đi bộ, chạy bộ, chơi tennis, đạp xe,…cùng gia đình.
– Giáo viên thể dục có thể nhờ trẻ làm các động tác thể dục mẫu cho cả lớp.

6/ TRÍ THÔNG MINH TƯƠNG TÁC
– Chơi những trò chơi gia đình.
– Khuyến khích con bạn tham gia vào các hoạt động nhóm.
– Khuyến khích thảo luận và giải quyết vấn đề.
– Giao cho trẻ vai trò quản lý nhóm khi chia nhóm học tập trong lớp.

7/ TRÍ THÔNG MINH NỘI TÂM
– Cho trẻ có thời gian làm việc và chơi một mình.
– Yêu cầu trẻ hãy tạo ra vài thứ gì đó cho toàn gia đình để trẻ có cơ hội làm việc mình thích.
– Khuyến khích trẻ lưu giữ nhật ký hoặc các ghi chép hàng ngày.

8/ TRÍ THÔNG MINH TỰ NHIÊN
Mở rộng hiểu biết về các hiện tượng khoa học cho trẻ bằng cách quan sát những hiện tượng tương tự như thế trong cuộc sống và trong tự nhiên. Bạn hãy giúp trẻ lặp lại những thí nghiệm nhưng thay đổi đi các yếu tố tác động, ví dụ như bạn hãy cho trẻ quan sát cây sẽ phát triển ra sao dưới ánh sáng của bóng đèn điện? Trước khi thay đổi các điều kiện tác động đó thì bạn hãy hướng dẫn trẻ tập phán đoán trước điều gì sẽ xảy ra trước khi thử nghiệm.
8 trí thông minh của trẻ không hề hoạt động độc lập mà liên kết rất gắn bó với nhau. Nếu như một số trí thông minh yếu sẽ kéo theo các trí thông minh khác xuống. Vì vậy cha mẹ hãy là người giúp đỡ trẻ để trẻ phát triển toàn diện nhé.
Nguồn: http://webtrecon.com/8-loai-hinh-thong-minh-theo-thuyet-da-thong-minh-cua-howard-garner/

Share This Post

7 Responses to "Tám trí thông minh theo thuyết của Howard Garner"

  1. Hãy cứ để mấy kẻ “biết tuốt” chứng minh rằng những gì ta biết không làm ta thông minh hơn. Bởi đó chỉ là “trí tuệ cứng” và nó khác xa “trí tuệ mềm”.
    Thực chất, những gì bạn biết, dựa trên những thông tin tích lũy được từ sách báo, trường học.. thường được gọi là “trí tuệ cứng”, và nó khác với “trí tuệ mềm ” – một dạng trí tuệ ít cứng nhắc hơn, dựa ít hơn trên trí nhớ và dựa nhiều hơn trên tư duy khái quát, như khả năng xác định vấn đề, giải quyết vấn đề và lập luận.

    Trí thông minh có nhiều thành phần khác nhau. Photo courtesy
    of Shutterstock
    Trí thông minh có nhiều thành phần khác nhau. Photo courtesy of Shutterstock
    Trí tuệ là một thứ phức tạp, và nó chịu ảnh hưởng của những gì mà chúng ta làm mỗi ngày. Ví dụ, một bài viết trên tờ New York Time năm ngoái đã chỉ ra rằng có rất nhiều trường phổ thông ở Mỹ đang áp dụng những chương trình dạy cho học sinh cách để trở nên thông minh về mặt cảm xúc.

    Ý tưởng là những trẻ được dạy cách “quản lý” cảm xúc của mình, như học cách bình tâm mỗi khi lo lắng, sẽ học tập tốt hơn vì nhận thức của trẻ về bản thân sẽ cho phép chúng tập trung và công việc trước mắt.

    Tất cả những chi tiết vụn vặt này cho thấy rằng việc tìm hiểu về trí tuệ khó hơn nhiều,và trong quá trình đó, nhiều thông tin bị hiểu sai, nhất là trong những cuộc nói chuyện ngẫu nhiên mà có người phàn nàn về kiến thức tuyệt đối. Vì thế, dưới đây là 4 điều mà có thể bạn chưa từng biết về trí thông minh.

    Các trò chơi trí não không khiến bạn thông minh hơn

    Với tỷ lệ bệnh Alzheimer và các bệnh sa sút trí tuệ khác ngày càng tăng, những công ty như Lumosity đã tự xây dựng thương hiệu cho mình như một giải pháp cho sự lão hóa của bộ não.

    Ý tưởng rất đơn giản: Hãy chơi những trò chơi liên quan đến nhớ từ ngữ, đặt đồ vật có hình dạng khác nhau vào đúng chỗ, và trí nhớ và sự chú ý của bạn sẽ được lợi. Mặc dù điều này là đúng, song quan niệm rằng những trò chơi này sẽ cải thiện trí thông minh nói chung lại là sai lầm.

    Các nhà nghiên cứu thấy rằng các trò chơi này giúp cho trí nhớ, sự chú ý và kỹ năng “đa nhiệm” tốt hơn. Nhưng với trí thông minh toàn diện, thì cả hai nghiên cứu đều cho thấy các trò chơi không cải thiện được trí thông minh.

    Trong một nghiên cứu, những người tham gia được làm một trong 3 bài test ở mức độ từ dễ đến khó. Kết quả cho thấy những người hoàn thành được bài test phức tạp có cải thiện về trí nhớ làm việc; tuy nhiên, “trí tuệ mềm” của họ vẫn giữ nguyên.

    Càng thông minh càng hay bị bệnh tâm thần

    Nếu đã từng xem bộ phim A Beautiful Mind, dựa trên cuộc đời của John Nash, nhà kinh tế học từng đoạt giải Nobel, thì hẳn bạn sẽ nhớ cuộc chiến đấu của ông với bệnh tâm thần phân liệt.

    David Foster Wallace, một nhà văn nổi tiếng khác đã phải vật lộn với căn bệnh trầm cảm trong 20 năm – ông tự tử vào năm 2008.

    Xu hướng bệnh tâm thần ở những trí tuệ của nhân loại có mặt cả Abraham Lincoln, Isaac Newton, và Ernest Hemingway.

    Mối liên quan này từ đâu mà ra? Các nghiên cứu về gen chịu trách nhiệm mã hóa những protein gắn can xi – có tên là neuronal calcium sensor-1 (NCS-1), đã thấy rằng gen này cũng chịu trách nhiệm về “độ đàn hồi synap” – nghĩa là độ mạnh của liên kết thần kinh dựa trên mức độ hoạt động của chúng.

    Những nghiên cứu trên cũng cho thấy tăng NCS-1 có liên quan với bệnh tâm thần phân liệt và rối loạn lưỡng cực. Nghĩa là độ đàn hôi mạnh hơn – đồng nghĩa với thông minh hơn – cũng có nghĩa là khả năng bị bệnh tâm thần cao hơn.

    Một nghiên cứu khác năm 2005 cột nghiên cứu khác năm 2005 cũng thấy rằng những người thực hiện tốt hơn các bài kiểm tra tốt cũng dễ bị rối loạn lưỡng cực hơn.

    Người ngủ muộn, dậy muộn, thường thông minh hơn

    Nhiều nghiên cứu đã nói về tác hại của việc làm “cú đêm”. Dù là đèn từ máy tính hay TV hay chỉ đơn giản là thức khuya, thì việc bạn vẫn thức khi mà nhịp sinh học cho biết bạn nên ngủ cũng sẽ cản trở nhiều quá trình sinh học. Theo đó, nguy cơ bệnh như tiểu đường, ung thư hay các vấn đề về sinh sản sẽ tăng lên.

    Nhưng có một điều an ủi cho những người hay thức khuya; một vài nghiên cứu đã cho thấy các “cú đêm” có vẻ thông minh hơn “sơn ca” – những người dậy sớm.

    Một nghiên cứu từ năm 2009, dựa trên giả thuyết tương tác Savanna-IQ, cho rằng những người thông minh nhiều khả năng đi chệch khỏi những hoạt động thường ngày trong suốt lịch sử tiến hòa. Nói một cách đơn giản, nghiên cứu cho rằng do rất nhiều xã hội hoạt động vào ban ngày và ngủ yên vào ban đêm, nên những người trở nên hoạt động hoen vào ban đếm có lẽ là người thông minh hơn. Đồng thời, một nghiên cứu hồi năm ngoái đã thấy rằng các “cú đêm” thường ghi điểm cao hơn trong những bài test đánh giá khả năng lập luận, được xem là một chỉ số của trí tuệ toàn diện.

    Các bài test IQ là khá tệ trong việc đo trí thông minh

    Trở lại với sự phức tạp của trí tuệ, và thực tế là có rất nhiều lĩnh vực trí tuệ khác nhau, nên sẽ là phi thực tế nếu tin rằng các bài test IQ có thể đo lường chính xác trí thông minh của một ai đó.

    Một nghiên cứu ở Canada năm 2012 ủng hộ ý tưởng này, cho rằng trí thông minh của một người thực sự được quyết định bởi trí nhớ ngắn hạn, kỹ năng lập luận, và khả năng ngôn ngữ – những điều không thể đo bằng một bài test IQ. Tác giả nghiên cứu cho rằng những yếu tố này độc lập và không liên quan đến nhau, và bạn có thể sáng chói ở mặt này nhưng lại dở tệ ở mặt khác.

    Trong một bài phỏng vấn với Scientific American, nhà tâm lý học W. Joel Schneider nói rằng hiệu quả của một bài test IQ thực ra tùy thuộc vào việc nó định kiểm tra cái gì.

    Ví dụ, nếu là năng lực học tập, thì phương pháp này “rất kém vì năng lực học tập bị ảnh hưởng bởi cơ hội học tập, những khác biệt về văn hóa, gia đình, và tính cách trong sự chuyên cần và cởi mở với học tập”.

    Khi được hỏi về IQ toàn diện, ông cho rằng mặc dù “ai đó có điểm IQ rất thấp trên một bài test cũng dễ gặp khó khăn trong nhiều lĩnh vực khác”. Một test IQ nhất định có thể đánh giá sai nhiều người theo cả hai hướng.

    Dù mối liên hệ giữa tất cả những yếu tố này rất chặt chẽ và khó tách rời, những phát hiện này chỉ nêu bật về sự phức tạp của bộ não con người. Do các test IQ ra đời khi mà quan niệm về trí thông minh khác với bây giờ, có lẽ đã đến lúc thay nó bằng một thứ khác tốt hơn.

    Reply
    1. Não trái là não của ý thức, Não phải là não của tiềm thức. Não người chia làm hai phần, còn gọi là bán cầu não phải và bán cầu não trái. Trước đây người ta cho rằng não phải và não trái hoạt động theo cùng một nguyên lí giống nhau. Nhưng thực tế lại không phải như vậy. Từ những năm 1960 Robert Ornstein and Roger Sperry đã phát hiện ra sự khác nhau của hai bán cầu não. Đặc biệt khi công trình nghiên cứu của Giáo sư Roger Sperry (Học viện Kỹ Thuật Canifornia Mỹ) đạt giải Nobel về Y học và Sinh lí học (năm 1981), các nhà khoa học trên thế giới đã quan tâm khám phá ý nghĩa của những phát hiện về bộ não và ứng dụng nó.

      Reply
  2. Có ý kiến cho rằng trí thông minh của mỗi người là một số lượng cố định được xây dựng từ khi còn nhỏ và sau đó sẽ không bị thay đổi . Một nghiên cứu trên nhiều đối tượng đã chỉ ra rằng trí thông minh sẽ không thay đổi theo thời gian là sai.
    Vậy phải làm thế nào để duy trì và phát triển trí thông minh của mỗi người. Mời tham khảo những cách dưới đây.

    1. Thông minh hơn nhờ vào WEB
    1. Thông minh hơn nhờ vào WEB

    Hàng ngày, bạn dành rất nhiều thời gian cho việc online. Các trang mạng là nơi cung cấp nguồn kiến thức khổng lồ. Thay vì lên mạng để tham gia vào những vô bổ hãy biết tận dụng thời gian này để làm giàu sự hiểu biết của bạn về thế giới quan.

    2. Viết lại những gì đã học

    Mỗi ngày, viết khoảng 400 từ để tóm tắt lại những gì bạn đã học được trong ngày là một điều kích thích rất có lợi cho não. Đó là lời khuyên của giáo viên dạy Yoga, Claudia Azula Altucher nổi tiếng tại New York, Mỹ và chuyên gia Mike Xie của tạp chí Bayside Biosciences cũng đồng tình với ý kiến này.

    3. Tạo ra một danh sách “tuyệt vời”

    Một phần lớn trí thông minh là sự tự tin và hạnh phúc. Vì vậy, cần thúc đẩy hai yếu tố này. Hãy dừng lại việc nghĩ về những điều bạn chưa làm được, mà thay vào đó nên thêm vào danh sách của bạn những điều bạn đã hoàn thành đúng kế hoạch. Điều này, thúc đẩy bạn suy nghĩ tích cực hơn.

    4. Tác dụng của trò chơi và câu đố

    Các trò chơi và câu đố không chỉ luôn giúp bạn thư giãn, vui vẻ mà đồng thời cũng là yếu tố thúc đẩy trí não tư duy, phát triển. Nên luyện tập trí nhớ hàng ngày bằng điều này.

    5. Có những người bạn thông minh

    Tiếp xúc với những người thông minh sẽ thôi thúc bạn suy nghĩ nhiều hơn và trí nào phát triển theo hướng tiến bộ. Đồng thời, đây cũng là cơ hội để bạn trau dồi, học hỏi thêm kiến thức cho mình.

    6. Đọc nhiều

    Đây không phải là điều mới mẻ hay ngạc nhiên. Việc đọc tài liệu, đọc sách hàng ngày giúp trí não có nhiều các xử lý cho vấn đề mà bạn gặp phải.

    7. Giải thích cho người khác

    Albert Einstein đã nói: “Bạn không thể giải thích sự việc một cách đơn giản nếu như bạn không thật sự hiểu nó”. Việc hiểu vấn đề và truyền đạt lại cho người khác cũng là một cách giúp trí não hoạt động linh hoạt.

    8. Ngẫu nhiên làm một điều mới lạ

    Theo lời từ Farnam Street, sau khi Steve Jobs – người sáng lập hãng Apple nghỉ học, ông đã lang thang tìm kiếm các lớp học về thư pháp. Và từ những gì có được trong thời gian đó, Steve đã áp dụng đầy sáng tạo trên các sản phẩm công nghệ sau này.

    Jobs nói: “ Bạn không thể kết nối các sự việc cùng một lúc mà bạn chỉ có kết hợp chúng sau khi có cái nhìn tổng thể hơn. Chắc chắn bằng cách nào đó bạn sẽ kết hợp được chúng trong tương lai”.

    9. Tìm hiểu một ngôn ngữ mới

    Bạn không nhất thiết phải biết sử dụng trôi chảy hay ra nước nước ngoài để cải thiện ngôn ngữ đang theo đuổi. Bạn có thể tìm hiểu thông qua các trang WEB. Tại đó, bạn vừa có thể làm việc, học tập một cách thoải mái mà vẫn rinh về những phần thưởng tinh thần thú vị.

    10. Dành thời gian nghỉ ngơi

    Khi bộ nào liên tục làm việc, bạn cũng cần để nó nghỉ ngơi. Sự nghỉ ngơi giúp bộ não nạp thêm năng lượng, sâu chuỗi và lưu lại lâu hơn nhưng gì đã thu thập được trong ngày. Đừng bắt não làm việc quá căng thẳng.

    Reply
  3. Trí khôn và trí thông minh nói chung thì cũng gần tương đồng nhau. Nhưng trí khôn áp dụng tất cả những hiểu biết có trong mình để thể hiện trong công việc, những chiêu thức, những mưu kế… Sử dụng nhiều trong cuộc sống thực hàng ngày. Còn trí thông minh nói đến như là sự phát triển về trí não, có những phát minh mới tiến bộ, nhìn nhận nhanh sự việc… Trong trí khôn có trí thông minh…

    Reply
  4. Trí khôn là sự hiểu biết từng trãi(đi một đàng học một sàng khôn,đi cho biết đó biết đây ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn.)
    Trí thông minh là dựa trên trí khôn để tính toán,suy luận,trí thông minh có thể sáng tạo ra những điều mới mẻ chưa ai từng biết.
    Mình có thể ví trí khôn như cái gốc cây ,trí thông minh như nhũng cành cây đâm chòi nẩy lộc.

    Reply
  5. Các nghiên cứu khoa học đã phát hiện ra rằng não phải có những khả năng kỳ diệu. Nếu não phải được phát triển, nó có thể sẽ kích hoạt những khả năng không có giới hạn. Phương pháp giáo dục truyền thống hiện nay mới chỉ tập trung vào một bên của não bộ đó là não trái vì người ta chưa biết gì nhiều về nửa bên kia. Trên thực tế, những khả năng chưa được khai phá của con người đều nằm ở não phải. Não trái là phần não mang tính vật chất, tư duy thực thể 3 chiều còn não phải thì hoạt động ở trình độ cao hơn và mang tính tinh thần. Não phải hoạt động một cách vô thức còn não trái hoạt động một cách có lí trí. Trên thực tế não phải và não trái có những chức năng khác nhau. Chúng cũng có những cách thức xử lí thông tin khác nhau. Não trái xử lí thông tin qua ngôn ngữ và não phải lại qua hình ảnh. Khi con người tiến hành một công việc nhất định, một bên của não sẽ hoạt động. Ví dụ khi ta nói chuyện hoặc đọc sách, não trái đang hoạt động. Não phải không can thiệp vào các vấn đề liên quan đến ngôn ngữ nhưng nó sẽ hoạt động trong các vấn đề liên quan đến hình ảnh.

    Reply

Post Comment